Đức Giêsu chữa người bại liệt
Lm. Giuse Nguyễn Thể Hiện, DCCT
Người bại liệt trong bài Tin Mừng hôm nay là chính mỗi người chúng ta. Nhưng chúng ta cũng lại có thể đang là mấy ông kinh sư trong trình thuật này...
Bài Tin Mừng hôm nay (Mc 2,1-12) kể cho chúng ta phép lạ Đức Giêsu chữa lành một người bại liệt. Trong câu truyện có quá nhiều chi tiết lạ lùng, thậm chí là phi lý xét về nhiều phương diện, khiến chúng ta khó có thể hiểu theo nghĩa mặt chữ của những gì được viết trong bản văn. Đã đành, không thể phủ nhận một sự kiện, rằng có lẽ Đức Giêsu đã thật sự chữa lành một người bại liệt, nhưng cũng phải công nhận rằng có nhiều chi tiết trong trình thuật đã được tác giả Mc cố ý “cài đặt” và xây dựng nhằm mục đích trình bày những nội dung giáo huấn quan trọng. Vì thế, cách làm đúng đắn khi suy niệm bài Tin Mừng của Chúa Nhật hôm nay có lẽ là không quá bận tâm đến chuỗi các sự kiện cho bằng những nội dung giáo huấn mà tác giả Mc muốn nói với chúng ta qua hệ thống ngôn ngữ ẩn dụ và biểu tượng mà ông dùng để kể chuyện.
Mở đầu trình thuật, tác giả viết: “Đức Giêsu trở lại thành Caphácnaum. Vài ngày sau, hay tin Người ở nhà, dân chúng tụ tập lại, đông đến nỗi trong nhà ngoài sân chứa không hết. Người giảng lời cho họ” (cc.1-2).
Kết thúc cuộc hành trình “đi khắp miền Galilê rao giảng trong các hội đường” (1,39), Đức Giêsu trở lại thành Caphácnaum. Nhưng có lẽ Người đã không công khai vào thành sau sự kiện chữa lành một người phong hủi, như chúng ta đã suy niệm vào Chúa Nhật tuần trước (1,45). Phải “vài ngày sau” dân chúng mới biết rằng Người đang ở Caphácnaum. Thật ra, trong bản văn Hy Lạp, trạng ngữ “vài ngày sau” có thể hiểu theo hai cách khác nhau: hoặc đó là trạng ngữ cho động từ “trở lại (thành Caphácnaum)” hoặc đó là trạng ngữ cho động từ “hay tin”. Có lẽ cách hiểu thứ hai phù hợp với mạch lạc của bản văn hơn. Việc đọc bài Tin Mừng hôm nay trong sự liên tục với bài Tin Mừng của Chúa Nhật tuần trước sẽ giúp chúng ta dễ hiểu sự tiến triển trong nội dung giáo huấn mà tác giả Mc muốn trình bày.
Đức Giêsu đang “ở nhà”. Bản văn không nói đó là nhà của ai, nhưng đó là nơi dân chúng “quy tụ”, trong đó có “mấy kinh sư đang ngồi” (c.6). Những chi tiết có phần lạ lùng này (nhất là chi tiết cuối) làm nên ý nghĩa ẩn dụ của “nhà” trong đó Đức Giêsu đang hiện diện. Nói rõ hơn, sự kiện mấy kinh sư đang ngồi “trong nhà” và dân chúng “quy tụ” ở đó làm cho “nhà” ở ngữ cảnh này có ý nghĩa gần giống như “hội đường”, hay nói cách khác, “nhà” ở đây là ẩn dụ về thiết chế tôn giáo Do Thái. Đức Giêsu đang “ở” trong đó.
Khi “hay tin Người ở nhà, dân chúng tụ họp lại, đông đến nỗi trong nhà ngoài sân chứa không hết” (c.2). Đức Giêsu “giảng lời cho họ” (c.2). Vẫn là đám đông muốn gặp Đức Giêsu như ông Simon đã từng trình bày với Người khi Người âm thầm rời Caphácnaum (1,37), nhưng nhận thức của họ có lẽ đã có phần khác. Lời cao rao của người được sạch khỏi phong hủi (trong bài Tin Mừng tuần trước) khiến họ biết rằng Đức Giêsu đã gạt phăng những rào chắn kỳ thị mà các quy định về thanh sạch – nhơ uế đã tạo ra trong dân.
“Bấy giờ người ta đem đến cho Đức Giêsu một kẻ bại liệt, có bốn người khiêng” (c.3). Tác giả không nêu tên người bại liệt này, cũng không đặt trên miệng ông bất cứ lời nào trong toàn bộ trình thuật. Ông ta, như thế, là hình ảnh điển hình của tình trạng không có chút giá trị gì, một người không thể tự mình di chuyển được, cũng chẳng có sự tự do để hành động. Những người khiêng ông ta phải đặt ông ta trên một cái chõng. Tình cảnh nằm bẹp trên chõng, không có khả năng di chuyển hay động đậy, chính là tình cảnh bi đát không có cách nào giải quyết và tương đương với tình cảnh của một kẻ đã chết, chết ngay khi còn đang sống. Những người khiêng cũng không có tên và cũng chẳng nói lời nào, chỉ có một đặc trưng duy nhất là họ làm thành nhóm bốn người.
Ý nghĩa biểu tượng của con số bốn là điều cần được lưu ý cách đặc biệt ở đây: con số bốn vốn là biểu tượng của toàn thế giới và của toàn nhân loại. Trong Thánh Kinh Cựu Ước và trong các nền văn hóa Trung Cận Đông cổ, số bốn chính yếu diễn tả cái toàn thể và cái phổ quát. Bốn người khiêng chõng đó làm mọi cách để vượt qua các trở ngại mà đến chỗ Đức Giêsu. Họ tin tưởng vào hiệu năng cuộc gặp gỡ của người bại liệt với Đức Giêsu. Bốn người khiêng chõng này là biểu tượng cho toàn thể nhân loại không thuộc về “nhà Israel”, nơi Đức Giêsu đang ở.
Người bại liệt cũng là biểu tượng của nhân loại đó, nhưng dưới một khía cạnh khác: nhân loại tội lỗi, cần ơn tha thứ, và hiện đang ra như bất động, không còn tự do hành động nữa.
Như thế, nhân loại được biểu tượng trong trình thuật dưới hai hình ảnh được dùng để diễn tả một thực tại kép: là nhân loại hành động trong hình ảnh của bốn người khiêng chõng đang diễn tả ước muốn mãnh liệt được đến gần Đức Giêsu, và đồng thời, cũng là nhân loại thụ động trong hình ảnh của người bại liệt đã bị sự dữ hành hạ đến độ như chết rồi. Nói cách khác, cả hình ảnh người bại liệt lẫn hình ảnh bốn người khiêng chõng đều là biểu tượng của nhân loại chúng ta.
Trình thuật Tin Mừng hôm nay,vì thế, có tính chất “lập trình”, trình bày Đức Giêsu trong tư thế Đấng Cứu Chuộc không chỉ của Israel mà còn là của toàn thể nhân loại. Ơn tha thứ đến từ Đức Giêsu đang ở “trong nhà”, tức là xuất phát từ nhà Israel, nhưng không giới hạn trong đó. Trái lại, cái nhà đó sẽ được xé tung ra để nhân loại tội lỗi có thể trực tiếp đến với Đức Giêsu.
Sau khi giới thiệu người bại liệt và bốn người khiêng chõng, tác giả viết: “Vì dân chúng quá đông, nên họ không sao khiêng đến gần Người được. Họ mới dỡ mái nhà, ngay trên chỗ Người ngồi, làm thành một lỗ hổng, rồi thả người bại liệt nằm trên chõng xuống” (c.4). Nhân loại khao khát được gặp Đức Giêsu, nhưng họ bị ngăn cản bởi những chướng ngại vật không thể vượt qua được. Nhưng rồi cuối cùng, bằng những sáng kiến và nỗ lực phi thường, họ đã phá tung mái nhà và “thả người bại liệt nằm trên chõng xuống”. Hình ảnh cái chõng ở đây là một hình ảnh quan trọng. Tầm quan trọng này được thể hiện ở chỗ: trong trình thuật, hình ảnh đó xuất hiện bốn lần (cc.9.9.11.12) song song với bốn lần nói đến “tội” (cc.5.7.9.10) (lại con số bốn!). Hơn nữa, khi trình thuật nhắc đến những cái mà người bại liệt sở hữu, thì đó là “các tội” của anh ta (cc.5.9) và “cái chõng” của anh ta (cc.9.11). Người bại liệt này đang phải nằm dính trên cái chõng của anh ta, và cả anh lẫn cái chõng đó đều được đặt xuống trước mặt Đức Giêsu.
“Thấy họ có lòng tin như vậy, Đức Giêsu bảo người bại liệt: "Này con, con đã được tha tội rồi" (c.5). Đức Giêsu ngỏ lời với người bại liệt – nhân loại tội lỗi, trong hình thức một lời công bố: “Con đã được tha tội rồi”. Ở đây có một sự không rõ ràng: Đức Giêsu tha tội? Hay Người chỉ đơn giản công bố ơn tha thứ của Thiên Chúa? Thực ra, sự không rõ ràng ở đây là cố ý của tác giả: Thiên Chúa tha thứ tội lỗi vì Đức Giêsu đã khẳng định điều ấy.
“Nhưng có mấy kinh sư đang ngồi đó, họ nghĩ thầm trong bụng rằng: "Sao ông này lại dám nói như vậy? Ông ta nói phạm thượng! Ai có quyền tha tội, ngoài một mình Thiên Chúa?” (cc.6-7). Mấy ông kinh sư đang “ngồi” trong “nhà”. Chi tiết này ám chỉ vị thế chắc chắn và có thẩm quyền của họ trong cộng đồng Do Thái. Tác giả Mc không nói gì về phản ứng của những người nghe lời công bố ơn tha thứ của Đức Giêsu, mà chỉ nói đến phản ứng của các ông kinh sư. Phản ứng đó chỉ đơn giản là “thầm trong bụng”, nhưng được đặt trong hình thức văn phong trực tiếp. Với sự hiện diện thinh lặng phản kháng này của các kinh sư “trong nhà”, tác giả muốn nói đến ảnh hưởng của giáo huấn và thiết chế tôn giáo chính thức của Israel trong tâm trí những người đang nghe Đức Giêsu công bố ơn tha thứ dành cho người bại liệt.
Ảnh hưởng đó khiến nảy sinh một nhận định rất nghiêm khắc về Đức Giêsu. Họ lập tức coi Ngài là kẻ nói phạm thượng, thay vì yêu cầu Ngài đưa ra lời giải thích. Họ làm như thế với tất cả sự chắc chắn tuyệt đối. Quả thực, lời tuyên bố tha tội của Đức Giêsu dành cho người bại liệt đã đi ngược lại những nguyên lý thần học Do Thái đang được công nhận. Lời tuyên bố của Đức Giêsu đã trực tiếp kết án những nguyên lý ấy, dù không phải là lời kết án tường minh.
Một trong những “tín khoản” quan trọng được mọi khuynh hướng tôn giáo Israel chấp nhận, đó là chỉ một mình Thiên Chúa mới có quyền tha tội (x. Xh 34,6; Is 43,45; 44,22). Sự khác biệt giữa các khuynh hướng chỉ liên quan đến những phương tiện cần phải dùng để đạt được sự giải thoát đó. Không ai có thể chắc chắn đang ở trong tình trạng hoàn toàn tốt đẹp với Thiên Chúa vì không ai có thể bảo đảm hoàn toàn rằng tội lỗi đã thực sự được tha; để hoàn toàn chắc chắn như thế, cần phải có một lời công bố của chính Thiên Chúa.
Khi công bố với người bại liệt một cách chắc nịch rằng “Này con, con đã được tha tội rồi”, Đức Giêsu, theo quan điểm Do Thái, rõ ràng đang đứng trong vị trí của Thiên Chúa. Vì thế, người ta đã hiểu lời công bố của Đức Giêsu như là một sự tiếm đoạt ưu vị của Thiên Chúa mà theo họ là tuyệt đối không thể nhường ban cho bất cứ ai. Trong quan điểm của họ, Thiên Chúa là Đấng hay ghen và không chấp nhận cho bất cứ ai được phép đứng vào vị trí của Người.
“Tâm trí Đức Giêsu thấu biết ngay họ đang thầm nghĩ như thế, Người mới bảo họ: "Sao trong bụng các ông lại nghĩ những điều ấy? Trong hai điều: một là bảo người bại liệt: "Con đã được tha tội rồi", hai là bảo: "Đứng dậy, vác lấy chõng của con mà đi", điều nào dễ hơn?” (cc.8-9). Trong tâm trí mình, Đức Giêsu thấu biết ngay sự từ chối của những người hiện diện đối với Người. Đức Giêsu đang “ở trong nhà Israel” và chung quanh Người là những người Israel. Họ chờ đợi ở Người sự kính trọng các nguyên lý truyền thống của họ. Họ có thể chấp nhận Người là một tôn sư mới mẻ, nhưng không chấp nhận Người cắt đứt với quá khứ và những chủ trương của họ. Đức Giêsu biết rõ điều đó.
Để giải quyết vấn đề, Đức Giêsu không đi vào một cuộc tranh luận lý thuyết, cũng chẳng tranh cãi trực tiếp với những tiền giả định thần học của các kinh sư. Ngược lại, Người thách thức họ thẩm định phạm vi thẩm quyền của Người. “Điều nào dễ hơn?”. Họ phải phán đoán và rút ra kết luận.
Đối với đám đông dân chúng, việc chữa lành người bại liệt là bằng chứng cho thấy Thiên Chúa tha thứ tội lỗi của anh ta, nhưng đó là việc không thể xảy ra được. Kinh Thánh Cựu Ước chưa bao giờ nói về những người bại liệt và càng chẳng hề nói đến việc những người bại liệt được chữa lành. Người bại liệt trong câu truyện này lại là ẩn dụ của nhân loại ngoại giáo: cái nhân loại đó, trong cái nhìn của mấy ông kinh sư đang hiện diện, là không thể hy vọng được tha thứ, như người bại liệt chẳng thể hy vọng được chữa lành. Vậy khi Đức Giêsu nói đến khả năng thứ hai “là bảo:"Đứng dậy, vác lấy chõng của con mà đi” là Người đưa ra đề nghị sẽ thực hiện điều hoàn toàn mới mẻ. Sự kiện người bại liệt đứng dậy, vác chõng và bước đi, chính là những dấu hiệu của sự hoàn toàn bình phục, của sự đi từ cõi chết sang cõi sống. Đó sẽ là bằng chứng mang tính quyết định về thẩm quyền của Đức Giêsu. Đồng thời, đó cũng sẽ là bằng chứng cho thấy Người ở cùng Thiên Chúa và Thiên Chúa ở cùng Người, tức là cho thấy Người chẳng hề phạm thượng khi công bố rằng tội lỗi của người ta được tha thứ rồi.
Sau khi đặt các kinh sư vào vị trí phải phán đoán và rút ra kết luận, Đức Giêsu chuyển sang hành động. Người nói tiếp: “Vậy, để các ông biết: ở dưới đất này, Con Người có quyền tha tội, -Đức Giêsu bảo người bại liệt,- Ta truyền cho con: Hãy đứng dậy, vác lấy chõng của con mà đi về nhà!" (cc.10-11). Lệnh truyền này không chỉ là lời tha thứ, mà hơn nữa, là sự thông ban sự sống cho cái nhân loại không còn sự sống và không có tương lai. Nếu lệnh truyền này thành hiện thực, thì có nghĩa là kẻ trong thực tế như đã chết sẽ quay trở lại để sống và sẽ có khả năng đảm nhận lấy chính vận mệnh của mình. Hành động chữa lành người bị bại liệt này sẽ là biểu tượng của sự thông ban sự sống cho những kẻ không thuộc về Israel. Và đó sẽ là hành động của Con Người để thi hành quyền bính của Người trong thế giới: tha thứ tội lỗi và thông ban sự sống.
Lệnh truyền của Đức Giêsu cho người bại liệt gồm ba phần: hãy đứng dậy, hãy vác lấy cái chõng và hãy đi về nhà. Hai hành động đầu tiên chính là hiệu quả và bằng chứng của thẩm quyền của Đức Giêsu. Ơn tha thứ và sự sống mà Đức Giêsu thông ban sẽ làm cho anh ta tự mình đứng dậy và tự mình vác lấy chõng. Đáng chú ý là phần thứ ba của lệnh truyền: người bại liệt phải đi về nhà anh ta. Như thế là có sự phân biệt, thậm chí là đối nghịch, giữa “nhà của anh ta” với “nhà Israel” mà Đức Giêsu đang hiện diện trong đó. Nhân loại tội lỗi và ngoại đạo đi tìm ơn tha thứ và sự sống thì cần phải xé mái nhà và gặp gỡ Đức Giêsu trong “nhà Israel”, nhưng không được ở lại trong đó. Với lệnh truyền này, rõ ràng Đức Giêsu đã “tấn công” vào một trong những xác tín quan trọng trong đạo lý chính thức của những người Do Thái đương thời, theo đó, không có ơn giải thoát bên ngoài Israel, và do vậy, những người ngoại muốn tìm được ơn giải thoát buộc phải đi vào làm thành phần của dân Do Thái, sống dưới Lề Luật Do Thái.
Lệnh truyền của Đức Giêsu được thi hành theo đúng từng chữ: “Người bại liệt đứng dậy, và lập tức vác chõng đi ra trước mặt mọi người, khiến ai nấy đều sửng sốt và tôn vinh Thiên Chúa. Họ bảo nhau: "Chúng ta chưa thấy vậy bao giờ!" (c.12). Tình cảnh mới mẻ, mạnh mẽ và tràn đầy sức sống của người trước đây bị bại liệt cho thấy anh ta đã nhận được ơn tha thứ và sự sống mới. Mọi người đều được chứng kiến những gì đã xảy ra. Điều bất khả đã trở thành hiện thực. Đức Giêsu đã chứng minh tính chất hữu hiệu của lời và ơn tha thứ của Người. Như vậy, Người đã bác bỏ được lời cáo buộc phạm thượng nhắm vào Người. Chính giáo huấn của các kinh sư mới là sai lạc khi tạo ra một vực thẳm ngăn cách giữa Thiên Chúa với con người. Giáo huấn ấy ngăn cản người ta gặp gỡ Thiên Chúa, Đấng đang hiện diện, hành động, tha thứ và ban sự sống cho con người nơi Đức Giêsu. Giáo huấn ấy cần phải bị gỡ bỏ đi, như người ta đã gỡ bỏ mái nhà, để người bị bại liệt có thể gặp gỡ Đức Giêsu.
Phản ứng của cử tọa trước những gì đang diễn ra là hết sức tích cực và rõ ràng. Họ không nghĩ thầm, mà lên tiếng nói với nhau. Họ tôn vinh Thiên Chúa. Họ hiểu rằng những gì Đức Giêsu vừa thực hiện là sự mạc khải về Thiên Chúa và tình yêu của Ngài đối với nhân loại. Thiên Chúa là Thiên Chúa của tình yêu, của ơn tha thứ và của sự sống, chứ không phải Thiên Chúa của sự kỳ thị, sự phân biệt và sự đòi hỏi. Đó là vị Thiên Chúa mà cộng đoàn Mc đang thờ phượng và gắn bó từng ngày: trong cộng đoàn đó, những con người xưa bị coi là đồ bỏ và bị kỳ thị, nay gắn bó với Chúa Giêsu, tin vào Người và đón nhận ơn tha thứ cùng với sự sống của Thiên Chúa trong Người.
Người bại liệt trong bài Tin Mừng hôm nay là chính mỗi người chúng ta. Nhưng chúng ta cũng lại có thể đang là mấy ông kinh sư trong trình thuật này...
Lần cập nhật cuối (Thứ năm, 16 Tháng 2 2012 02:42)
| BÀI VIẾT CÙNG CHỦ ĐỀ |
|---|
|
| Bản tin giáo xứ Thái Hà |












